Thứ năm, 09/01/2025, 10:10 (GMT+7)

Giải pháp ứng phó hiệu quả trước tình trạng xâm nhập mặn ngày càng gia tăng

Xâm nhập mặn đang ngày càng nghiêm trọng do biến đổi khí hậu, đe dọa sinh kế của hàng triệu người dân Việt Nam. Tìm hiểu ngay những tác hại và giải pháp thiết thực để bảo vệ nguồn nước, đất đai và cây trồng trước hiểm họa này.

Xâm nhập mặn là gì?

Xâm nhập mặn là hiện tượng nước mặn với độ mặn từ 4/1000 trở lên từ biển xâm nhập sâu vào đất liền và gây ảnh hưởng đến nguồn nước ngọt dùng trong sinh hoạt, sản xuất cũng như sự phát triển của cây trồng và vật nuôi. Xâm nhập mặn là hiện tượng xảy ra hàng năm và có thể dự báo trước. Tại Việt Nam, xâm nhập mặn là một trong 19 loại hình thiên tai mà pháp luật quy định các địa phương cần phải có phương án ứng phó. Tùy theo mức độ, xâm nhập mặn được phân ra làm hai cấp độ rủi ro thiên tai: cấp một là mức rủi ro nhỏ, cấp hai là rủi ro trung bình.

Tác hại của xâm nhập mặn

Khi nước biển mang theo muối xâm nhập vào đất liền sẽ gây ra những ảnh hưởng rất lớn đến cấu trúc đất đai. Muối sẽ tạo ra sự thay đổi về hệ sinh vật sống trong môi trường đất, phá vỡ tính cân bằng của hệ sinh thái. Sự phá vỡ này sẽ gây ra suy thoái và ô nhiễm môi trường đất. Theo các nghiên cứu khoa học, khi nồng độ muối trong đất vượt quá 1/100, hầu hết các loại cây lương thực sẽ chết. Nồng độ cao của muối cũng sẽ tiêu diệt vi sinh vật, khiến đất mất đi khả năng canh tác.

Xâm nhập ảnh hưởng tới đất

Xâm nhập ảnh hưởng tới đất

Xâm nhập mặn đang ngày càng trở thành một vấn đề đáng quan ngại ở nước ta do biến đổi khí hậu toàn cầu. Nắng nóng và tình trạng hạn hán đã khiến nước ở các vùng ven sông và ven biển của nước ta ngày càng bị nhiễm mặn nhiều hơn. Tại Đồng bằng sông Cửu Long, vựa lúa lớn nhất của cả nước, theo dự báo, đến năm 2030, khoảng 45% diện tích khu vực này sẽ đối mặt với nguy cơ nhiễm mặn. Đây là một mối đe dọa lớn đối với tình hình an ninh lương thực của đất nước, bởi chỉ riêng Đồng bằng sông Cửu Long mỗi năm đã đóng góp 27% GDP của cả nước, trong đó nông nghiệp là sinh kế của hàng chục triệu người. 

Không chỉ ảnh hưởng đến lúa, xâm nhập mặn còn đe dọa đến năng suất và chất lượng của nhiều vườn cây ăn quả ở Hậu Giang, Bình Dương và các khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nói chung. 

Những việc cần làm để ứng phó với hiện tượng xâm nhập mặn

Đối với chính quyền các cấp

Chính quyền các địa phương cần quản lý chặt chẽ nguồn nước, tranh thủ các đợt xả nước của các hồ lớn để tích trữ nước vào ao hồ, trục sông, trục kênh. Khi nguồn nước sông đảm bảo lưu lượng, cần mở các âu cống để dẫn nước vào hệ thống sông ngòi, lấy nước và đẩy mặn. 

Quản lý các đập ngăn mặn hiệu quả, xây dựng đập tạm nếu cần để bảo vệ cây trồng. Các địa phương cũng cần xây dựng lịch canh tác đảm bảo thời vụ phù hợp, bám sát lịch xả nước tưới của các hồ thủy điện và phổ biến các công nghệ tưới tiết kiệm nước. 

Ở những vùng có mặn xâm nhập sâu, cần vận động người dân chuyển đổi sang các hình thức sản xuất khác như nuôi trồng thủy sản hoặc trồng cói, chuyển đổi một số diện tích lúa cần nhiều nước sang các cây trồng cạn cần ít nước như ngô lai, mè, đậu nành, dưa hấu, hay rau.

Chính quyền hỗ trợ người dân phòng chống xâm nhập mặn

Chính quyền hỗ trợ người dân phòng chống xâm nhập mặn

Ngoài ra, chính quyền địa phương cần vận động người dân tích trữ nước ngọt trong ao, đầm để sử dụng khi cần thiết.

Đối với cộng đồng

Giải pháp bảo vệ nguồn nước

Người dân cần có chế độ khai thác nước ngầm hợp lý, không đào giếng trong khu vực nội thị nơi đã có hệ thống cấp nước chung để đảm bảo vệ sinh cũng như kết cấu đất, kết cấu nền móng và kết cấu hạ tầng. Các giếng khoan đã hư hỏng hoặc không còn sử dụng cần được trám lấp đúng quy trình kỹ thuật để tránh xâm nhập nước mặn vào tầng chứa nước ngầm. 

Bà con nên lợi dụng nắng hạn, tổ chức đào các kênh nhỏ trên ruộng để phơi đất trong mùa khô. Khi mưa xuống, những đường mương này sẽ giúp nước mặn lắng xuống, hạn chế mặn trên mặt ruộng. Khơi thông luồng lạch, nạo vét kênh mương, tu sửa hệ thống thủy lợi nội đồng để bơm truyền nước ngọt tưới cho đồng ruộng. 

Tu sửa mương phòng tránh xâm nhập mặn

Tu sửa mương phòng tránh xâm nhập mặn

Giải pháp canh tác thích nghi với mặn

Cần sử dụng các giống cây trồng chống chịu mặn và chọn hình thức canh tác phù hợp với độ mặn của khu vực. Nếu độ mặn dưới 4 phần nghìn và thời gian nhiễm mặn dưới 3 tháng, có thể trồng lúa và hoa màu. Nếu độ mặn từ 4 đến 8 phần nghìn và thời gian nhiễm mặn dưới 6 tháng, nên trồng lúa hoặc nuôi tôm. Nếu độ mặn trên 8 phần nghìn và thời gian nhiễm mặn trên 6 tháng, người dân cần chuyển sang nuôi trồng thủy sản. 

Canh tác thích nghi với xâm nhập mặn

Canh tác thích nghi với xâm nhập mặn

Bên cạnh đó, cần chuyển đổi cơ cấu mùa vụ để thích hợp với xâm nhập mặn. Nên chuyển một phần đất canh tác ba vụ lúa sang hai vụ kết hợp nuôi thủy sản nước ngọt để nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Đối với những khu vực bị nhiễm mặn nặng, có thể chuyển diện tích lúa hoa màu sang quy hoạch thành các vùng nuôi tôm chuyên canh, đặc biệt là các khu vực ven biển.

Giải pháp chống mặn cho lúa

Nông dân chỉ nên xuống giống lúa khi chủ động được nước, chấp hành triệt để lịch thời vụ của từng địa phương theo lịch thủy văn và né rầy. Vùng bị mặn xâm nhập vùng ven biển phải chờ có mưa đều đẩy lui mặn mới tiến hành gieo sạ. 

Nên sử dụng giống lúa chất lượng cao đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, ưu tiên giống lúa ngắn ngày, cứng cây, chịu phèn, cho năng suất cao phù hợp với từng vùng sinh thái địa phương. Trước khi xuống giống, nên cày ải phơi đất để cắt đứt mao quản phèn, cắt đứt vòng đời sâu bệnh, tăng cường khoáng chất và hóa chất hữu cơ, để đất phục hồi thì nên có thời gian giãn cách giữa hai vụ là 21 ngày.

Chúng tôi đang hành động
vì thiên tai và biến đổi khí hậu

Xem thêm các bài viết khác